noscript_content

update_flash

get_adobe_flash

Kinh tế và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Thứ hai, 08 Tháng 3 2010 20:29

Tổng quan về nền kinh tế

 

Nền kinh tế của Xu-đăng hiện đang trên đà tăng trưởng, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng dương và tỉ lệ lạm phát tương đối thấp trong suốt giai đoạn vừa qua. Tốc độ tăng GDP đạt 8,4 % năm 2008. Khai thác dầu mỏ và nguồn lợi từ việc cắt giảm chi phí chiến tranh (peace dividend) là những động lực chính của sự tăng trưởng kinh tế này. Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã thúc đẩy sự tăng trưởng gần đây cũng như sự bùng nổ trong lĩnh vực dịch vụ, đặc biệt là vận tải và truyền thông.

 

Quá trình thực hiện Thỏa thuận Hòa bình Toàn diện đã cải thiện triển vọng gia tăng sự ổn định chính trị và tạo khuôn khổ cho sự phân chia thịnh vượng và quyền lực.

 

Mặc dù đứng trước nhiều thách thức về kinh tế và chính trị, Xu-đăng đã thành công trong việc bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng như Êtiôpia, Uganđa và Kênia, cũng như với các đối tác phát triển. Tốc độ tăng trưởng bền vững có đươc nhờ các sản phẩm về dầu đã dẫn tới thu nhập bình quân đầu người cũng tăng nhanh chóng, tỉ lệ biết chữ cũng tăng, trong khi tỉ lệ tử giảm. Xu-đăng đã dành riêng một phần đáng kể chi tiêu công cho cơ sở hạ tầng như đường xá, viễn thông và điện.

 

Thống kê kinh tế của Xu-đăng năm 2008

 

 GDP( tính trên sức mua)

$87.27 tỉ

 GDP( tỉ suất tăng thực)

$5.5%

 GDP- bình quân đầu người ( PPP)

$2200

GDP- theo ngành

Nông nghiệp: 32.9%

Công nghiệp: 31.2%

Dịch vụ: 36%

Đầu tư( gross fixed)

18.1% GDP

Dự trữ ngoại tệ và vàng

$3.329 tỉ

Xuất khẩu

$13.62 tỉ f.o.b.

Nhập khẩu

$ 7.757 tỉ f.o.b.

 

Nền kinh tế của Xu-đăng ước tính tăng trưởng 10,5% trong năm 2007, theo số liệu chính thức của Ngân hàng Trung ương, nhờ vào kim ngạch xuất khẩu dầu. Xu-đăng là 1 nước nông nghiệp, tuy rằng những năm gần đây dầu mỏ đã trở thành động lực kinh tế chủ yếu. Số liệu kim ngạch các ngành trong nền kinh tế đã cho thấy  vai trò quan trọng của ngành dầu mỏ, tổng thu nhập của ngành dầu mỏ chiếm 36% năm 2007, so với 16,5% năm 2006 trong khi tổng thu nhập của các ngành khác ngoài dầu mỏ thấp hơn nhiều, ở mức 7,5% năm 2007.

 

Sự phát triển kinh tế thời gian gần đây

 

Tổng thu nhập quốc dân tăng 8,4% năm 2008, so với 10,2% năm 2007. Ngành công nghiệp chiếm 24,7% tổng thu nhập quốc dân năm 2007, chủ yếu là từ sản phẩm dầu (17,2%), so với 19% năm 2008. Ngành chế tạo tăng 4% năm 2008 so với 2% năm 2007. Các ngành có đóng góp đáng kể là chế biến lương thực thực phẩm, nhất là chế biến đường, ngành chế tạo công cụ và phương tiện vận tải. Xây dựng bùng nổ khiến cho nhu cầu về các vật liệu xây dựng cũng tăng nhanh góp phần vào sản lượng đầu ra của ngành chế tạo.

 

Ngành dịch vụ chiếm khoảng 41,7% tổng thu nhập năm 2007 và tăng trưởng với tốc độ 7,5% năm 2008 nhờ có việc tiếp tục mở rộng ngành tài chính, xây dựng, vận tải, thông tin và thương mại. Ngành vận tải, lưu trữ và thông tin tăng trưởng 16% năm 2008 do chương trình phục hồi và nâng cấp được đưa vào áp dụng sau bản Joint Assessment Mission (JAM) năm 2005. Ngành xây dựng có mức tăng trưởng 18%, cao hơn năm 2007 1%. Sự phát triển năng động của ngành xây dựng có được là nhờ có những tiến bộ về mặt cơ sở hạ tầng và nhu cầu tăng cao của hộ gia đình và các công ty kinh doanh.

 

Nông nghiệp chiếm 34% tổng thu nhập quốc dân năm 2007, tạo việc làm cho 70% dân số. Ngành này cũng cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế tạo. Năm 2008 tỉ lệ tăng trưởng ngành này là 7,5% sau một giai đoạn phát triển chậm.

 

Tăng trưởng đầu tư tư nhân và công cộng là nguồn gốc chính của sự tăng nhanh tổng thu nhập quốc dân. Hai khu vực này chiếm 4,7% năm 2008. Ngành dầu mỏ thu hút đầu tư FDI đáng kể để sản xuất và thăm dò. Đầu tư tư nhân tiếp tục tăng trong lĩnh vực nông nghiệp và dịch vụ, trong đó phần lớn là các ngành vận tải, truyền thông, khách sạn và nhà hàng. Chi tiêu của người dân lớn hơn so với chi tiêu chính phủ. Khu vực kinh tế nước ngoài  đóng góp 0,9% vào tăng trưởng thu nhập quốc dân năm 2008. Rõ ràng là mức độ tăng trưởng chi tiêu chính phủ có thể tăng lên gấp bội nhưng lại không bền vững.

 

NÔNG NGHIỆP

 

Ngành nông nghiệp của Xu-đăng chiếm khoảng 32,9% GDP năm 2008 và có tiềm năng về năng suất rất lớn. Diện tích đất có thể canh tác được ước tính 200 triệu feddans (khoảng 84 triệu hecta). Xu-đăng đã từng được gọi là giỏ bánh mỳ tiềm năng của cả Trung Đông và có diện tích đất lớn ở vùng sông Nile Xanh và Trắng và sông Nile chính. Tuy nhiên ngành trồng trọt lại chưa phát triển hết tiềm năng và cần được đầu tư vốn, hệ thống tưới tiêu, đường xá, máy móc và công nghệ. Năng suất các sản phẩm nông nghiệp và chăn nuôi rất thấp theo các chuẩn so sánh. Để tăng thu nhập cho những người nghèo, đặc biệt là những người trồng trọt theo phương pháp tưới tiêu tự nhiên, điều kiện tiên quyết là phải tăng năng suất nông nghiệp.

 

Năm 2008, Xu-đăng là đối tác thứ ba của Trung Quốc ở Châu Phi. Tổng kim ngạch giao thương giữa hai nước đạt 8,18 tỉ đô la Mỹ. Và đầu tư của các công ty Trung Quốc vào Xu-đăng cũng tăng lên 13,1 tỉ đô la Mỹ trong khi đầu tư phi tài chính nhảy vọt lên 10 tỉ đô la Mỹ.

 

-          Gôm A Rập và vừng đã đem lại 214 triệu đô la Mỹ từ xuất khẩu và chiếm 55% sản lượng xuất khẩu ngoài dầu. Phần lớn sản lượng gôm A Rập trên thế giới là từ Xu-đăng, nơi có một vành đai dày loại cây Acacia Senegal mọc trải dài từ cực này sang cực kia của đất nước Xu-đăng. Theo báo cáo, Xu-đăng xuất khẩu khoảng vài chục nghìn tấn gôm A Rập thô mỗi năm, đáp ứng nhu cầu của cả thế giới. Nhựa thô được đưa đến Châu Âu để chế biến và sau đó được bán cho khách hàng ở khắp thế giới.

-          Bông là cây trồng thu hoa lợi duy nhất ở Xu-đăng, đóng góp 45% sản lượng xuất khẩu của Xu-đăng. Tổng sản lượng bông của Xu-đăng là 500 kiện năm 2008, xếp thứ 17 trong các nước xuất khẩu bông trên thế giới. Tuy nhiên, ở đây lại không phát triển ngành dệt may để đóng góp thêm vào sản lượng nguyên vật liệu thô. Chính phủ Xu-đăng đang xúc tiến thúc đẩy ngành này. 

-          Sản lượng sản phẩm ngô tăng khoảng 15,5% trong giai đoạn vừa qua và đạt 5 triệu tấn năm 2007, phần lớn là nhờ việc tăng năng suất lên khoảng 16,3% năm (492 kg cho mỗi feddan).

-          có sản lượng tăng 18%, lên mức 796 nghìn tấn. Các vụ kê được cải thiện nhờ có diện tích canh tác tăng hơn trước 8,6%, cho dù năm 2007 được canh tác rất ít.

 

Nghiên cứu gần đây của Ngân hàng Thế giới đã chỉ ra rằng nông nghiệp có tiềm năng lớn để bật lên phát triển ở khu vưc ngoài dầu mỏ. Việc nâng cao sản lượng nông nghiệp và cải cách ở đất nước này đòi hỏi sự đầu tư liên tục vào cơ sở hạ tầng nông nghiệp, tăng chi cho nghiên cứu nông nghiệp, đưa vào sử dụng hệ thống tưới tiêu, máy cày và các biện pháp bảo tồn đất, cải thiện hạt giống và phân bón cũng như các dịch vụ nông nghiệp bền vững. Cải thiện quá trình chế biến nông nghiệp và ngành kinh doanh nông nghiệp sẽ thúc đẩy tăng trưởng các sản phẩm nông nghiệp và sẽ mang lại nguồn thu nhập và đem lại việc làm.

 

Trong tương lai, Chính phủ Xu-đăng sẽ đẩy mạnh ngành nông nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh diện tích đất canh tác chỉ mới được khai thác khoảng 6,8%, theo ước tính của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc FAO.

 

Xu-đăng đang cố gắng thu hút vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp từ các tập đoàn đầu tư ở A Rập và Châu Á đang tìm kiếm nguồn cung cấp lương thực mới để đảm bảo an ninh lương thực với tình trạng cao đột biến giá hàng tiêu dùng như hiện tại.

 

Về lâu dài, Bộ Nông nghiệp tập trung theo đuổi một cuộc "đại tái sinh nông nghiệp" có trị giá khoảng 5 tỉ đô la để đầu tư trong khoảng giữa năm 2008 và 2011.

 

CÔNG NGHIỆP

 

Ngành công nghiệp của Xu-đăng (bao gồm công nghiệp chiết xuất và chế tạo) chiếm 30,6% GDP năm 2007 với tốc độ tăng trưởng 22,8%. Ngành dầu mỏ là ngành đóng góp chính, chiếm 19% GDP và 95% sản phẩm xuất khẩu (khi tính cả sản phẩm xăng và dầu). Ngành dầu mỏ tăng trưởng 36% năm 2007, theo các thống kê của Ngân hàng Trung ương, và đem lại nguồn thu nhập để chi trả các sản phẩm nhập khẩu cho quá trình công nghiệp hóa.

 

Kế hoạch phát triển công nghiệp của Xu-đăng không chỉ giới hạn trong nhóm các sản phẩm hi đrô các bon mà các ngành khác cũng đang ở ngưỡng đổi mới, với nền tảng là chương trình cải cách kinh tế tổng thể và các khoản đầu tư nước ngoài đang được thu hút về thông qua việc cải cách hệ thống luật lệ đầu tư từ nước ngoài và thương mại.

 

DẦU MỎ

 

Xu-đăng là một trong những nước khai thác dầu mỏ lớn nhất Châu Phi với sản lượng 500.000 thùng dầu 1 ngày. Khoảng hơn 200.000 thùng được xuất khẩu đi Trung Quốc, việc này đã khiến cho Xu-đăng xếp thứ 4 trong số các nước cung cấp dầu thô lớn nhất thế giới.

 

Bộ trưởng Năng lượng và Khai mỏ của Xu-đăng đã nói: "Xu-đăng đang đặt mục tiêu sản lượng 600.000 thùng 1 ngày vào năm 2009".

 

Trữ lượng dầu mỏ của Xu-đăng đã được chứng minh vào khoảng 6,4 tỉ thùng, được xếp vào hàng một trong những nước có trữ lượng lớn nhất ở Châu Phi.

 

Thăm dò và khai thác dầu mỏ được tiến hành dưới sự kiểm soát của Tập đoàn Dầu mỏ Xu-đăng (Sudapet). Tuy nhiên, do các nguồn lực tài chính và công nghệ có hạn, Sudapet thường phát triển các hãng liên doanh với các công ty nước ngoài, chủ yếu là các công ty Trung Quốc, Ấn Độ, Malaysia và các nước Hồi giáo. Chính phủ đang cố gắng đẩy mạnh ngành dầu mỏ, nhiều chính sách nhượng bộ đã được thực hiện, và công tác thăm dò đã có nhiều bước tiến rõ rệt.

 

Giữa năm 2007, mỏ 13 nửa dưới biển và nửa trên cạn đã được giao cho một liên doanh đứng đầu là thuộc Tập đoàn Dầu mỏ Quốc gia Trung Quốc (CNPC), bao gồm công ty Pertamina của In-đô-nê-xia, Sudapet, Công ty Dầu mỏ Dindir (một công ty của Jordani), và 2 công ty Nigeria.

 

Về công tác lọc dầu, Xu-đăng có tổng công suất khoảng 121.700 thùng 1 ngày (b/d)  với hai nhà máy lọc dầu: Khartoum và Port Sudan. Ngoài các nhà máy lớn này, Xu-đăng cũng có các nhà máy nhỏ công suất 15.000 b/d ở El Obeid, một nhà máy nhỏ ở Abu Gabra với công suất 2000b/d. Nhà chức trách Xu-đăng trog khi cố gắng có tận dụng cơ hội giá dầu tăng cao còn xem xét việc tham gia Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ OPEC trong tương lai.

 

ĐƯỜNG

 

Một trong những ngành công nghiệp thành công nhất ở Xu-đăng là ngành chế biến thực phẩm, trong đó đáng kể nhất là ngành sản xuất đường. Công nghiệp sản xuất đường ở Xu-đăng không những đủ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu, khiến cho Xu-đăng trở thành nước sản xuất đường duy nhât trong thế giới A Rập. Xu-đăng là quốc gia sản xuất đường lớn thứ 3 ở Châu phi, sau Nam Phi và Ai Cập. Ở Xu-đăng có 5 nhà máy tinh chế đường quy mô lớn với tổng công suất khoảng 655 nghìn tấn. Công ty đường Kenana, sở hữu bởi các nhà đầu tư A Rập, là nhà sản xuất đường lớn nhất ở Xu-đăng và một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới.

 

Xu-đăng sản xuất khoảng 850.000 tấn đường mỗi năm. Theo báo cáo tháng 6 năm 2009 do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc công bố, vụ mùa năm nay ước tính tăng 3,6% so với vụ mùa 2007/2008. Tổ chức này cho rằng kết quả trên là do "điều kiện thời tiết thuận lợi và sự ủng hộ của công luận".

 

Tổng diện tích đất canh tác cây mía trong năm 08-09 là 88.506 feddan, so với 86.728 feddan năm ngoái.

 

Kế hoạch mở rộng ngành công nghiệp mía đường đang được thực hiện. Muc tiêu của các kế hoạch này là cải tạo hệ thống cơ sở hạ tầng hệ thống tưới tiêu để tăng diện tích trồng mía.

 

Một công ty Ma Rốc có tên Hãng đầu tư Awna, đặt mục tiêu triển khai một dự án 500 triệu Euro (USD 696,9 triệu), dự án Gafa sẽ tạo ra 43.000 tấn đường mỗi năm khi nhà máy đưa vào hoạt động trong vòng 3 năm tới.

 

Các cơ quan hữu trách ở Xu-đăng cũng có kế hoạch phát triển ngành công nghiệp mía đường và tăng sản lượng đường cũng như sản xuất ethanol từ mật đường. Chính phủ Xu-đăng dự kiến xây dựng thêm 18 nhà máy ethanol.

 

Xu-đăng đặt mục tiêu đến năm 2015 sẽ sản xuất 10 triệu tấn đường mỗi năm, mặc dù các cơ quan hữu trách cho rằng Xu-đăng hoàn toàn có thể sản xuất được gấp đôi con số này. Chính phủ đã công bố một kế hoạch tham vọng về sản xuất đường, trong đó mục tiêu là diện tích canh tác cây mía sẽ tăng lên 4,1 triệu feddan. Kế hoạch này bao gồm 13 dự án, nằm ở khoảng giữa các con sông Nile Xanh và Trắng, người t among đợi các dự án Sabina Al-Ramash, Ballah, Al-Dewaim, Gezira, Sharaq Al-Nil và Nam Sudan sẽ tạo ra khoảng 700.000 việc làm và cải thiện sức khỏe và giáo dục cho 3 triệu người. Sản xuất đường sẽ không chỉ cho thực phẩm mà mục tiêu đã được chuyển hướng sang việc tinh chế ethanol và các sản phẩm nhiên liệu sinh học khác.

 

Dự án lớn nhất là Eliazeera, với mục tiêu sản xuất 2,9 triệu tấn đường và 205 triệu lít ethanol mỗi năm. Một dự án khác là nhà máy tinh chế đường trị giá 300 triệu USD sẽ được xây dựng ở Al Ramash tại bang trung tâm Sinnar ở Xu-đăng, dự án được tài trợ bởi một tập đoàn đầu tư tư nhân A Rập có trụ sở tại Abu Dhabi. Nhà máy có thể sản xuất 100.000 tấn đường và 20 triệu lít ethanol mỗi năm.

 

DỆT MAY

 

Dệt may và và sản xuất sợi cũng là ngành sản xuất mũi nhọn của Xu-đăng, lợi thế từ sản phẩm bông trồng trong nước. Các cơ quan có thẩm quyền ngày càng quan tâm đến ngành sản xuất này.

 

CÔNG NGHIỆP NẶNG

 

Xu-đăng đã phát triển ngành chế tạo vũ khí lớn, cũng như ngành sản xuất phương tiện vận chuyển ở khu công nghiệp thành phố Giad. Khu công nghiệp Giad được khánh thành bởi Tổng thống Al-Bashir tháng 10 năm 1997. Giad được xây dựng nhằm khuyến khích công nghiệp trong nước và nâng cao trình độ của lực lượng lao động ở Xu-đăng, khu công nghiệp bao gồm 13 công ty riêng lẻ sản xuất phương tiện (xe tải và ô tô) và cáp cũng như kim loại để sản xuất ống dẫn. Khu Giad đã trở nên rất quen thuộc ở Xu-đăng với các loại xe chở khách được ưa chuộng hơn các loại xe nhập ngoại.

 

Ngành công nghiệp ô tô Giad là ngành lớn nhất và cho lợi nhuận lớn trong các hoạt động sản xuất ở Giad. Ngành này lắp ráp khoảng 12.000 phương tiện một năm, từ loại xe chở khách Accent 15.000USD được chứng nhận bởi hãng Huyndai của Hàn Quốc cho đến loại xe tải trọng lớn 100.000USD được chứng nhận bởi hãng xe Man Group của Đức và Renault của Pháp để được bán tại thị trường Xu-đăng. Các ngành sản xuất quy mô nhỏ khác bao gồm dược, hàng điện tử, xi măng, sơn, đồ uống, bột mỳ, dầu thực vật và da thuộc.

 

XÂY DỰNG

 

Hoạt động xây dựng ở Xu-đăng rất sôi nổi trong năm vừa qua, nguyên nhân là do quá trình cải tạo cơ sở vật chất cũng như nhu cầu tăng nhanh ở khu vực cá nhân và doanh nghiệp. Công tác xây dựng đã tăng 6,7% năm ngoái, đóng góp 4% GDP. Một chỉ số khác phán ánh sự sôi động các hoạt động xây dựng là tỉ lệ tăng sản xuất xi măng ở mức 61,3%, với tổng sản lượng xi măng sản xuất ra là 326,2 nghìn tấn xi măng.

 

 

Các sản phẩm xuất khẩu của Xu-đăng

Giá trị thị trường: 17.100 (triệu)

 

Sản phẩm

Giá trị thương mại

Tỉ lệ

Tăng trưởng

 

(nghìn)

(%)

(% 5năm)

Dầu thô

5,172,526

30.25

233.88

Hạt và quả chứa dầu

114,931

0.67

64.29

Cừu và dê

111,443

0.65

(6.42)

Vàng

67,270

0.39

432.31

Gôm tự nhiên

53,988

0.32

66.34

Bông

27,032

0.16

22.76

Mật đường

24,547

0.14

118.56

Các loại cây thuốc

18,197

0.11

5.26

Dầu mỏ qua tinh chế

16,385

0.10

2.12

Hạt bồ kết

13,357

0.08

(21.78)

 

Các sản phẩm nhập khẩu của Xu-đăng

Giá trị thị trường: 16,296 (triệu)

 

Sản phẩm

Giá trị thương mại

Tỉ lệ %

Tăng trưởng

 

(nghìn)

(%)

(% 5năm)

 Xe tải

500,493

3.07

830.13

 Xe chở khách

307,809

1.89

640.30

 Mía đường

210,559

1.29

2,700.78

 Điện thoại di động, Máy quay, Máy thu sóng radio

185,323

1.14

1,306.47

 Xe tải nhẹ và máy kéo

160,044

0.98

815.62

 Điện thoại, Máy Fax và thiết bị chuyển mạch

95,965

0.59

192.02

 Sắt nguyên tấm, Ống thép

91,108

0.56

658.12

 Bơm

90,876

0.56

128.60

 Dược phẩm

88,464

0.54

117.18

 Linh kiện máy nâng, máy san, ủi đất

85,271

0.52

169.71

 

 

Tổng sản lượng dầu tính theo thùng trên ngày (b/d).

Năm

Sản lượng

Xếp hạng

Tỉ lệ tăng

Thời gian  lấy số liệu

2003

209,100

38

 

2001 est.

2004

209,100

38

0.00 %

2001 est.

2005

345,000

35

64.99 %

2004 est.

2006

401,300

33

16.32 %

2005 est.

2007

344,700

35

-14.10 %

2004 est.

2008

466,100

31

35.22 %

2007 est.

 

Tổng sản lượng dầu nhập khẩu  tính theo thùng trên ngày (b/d), tính cả dầu thô và dầu đã tinh chế:

Năm

Dầu – Nhập khẩu

Xếp hạng

Tỉ lệ tăng

Thời gian lấy số liệu

2005

0

45

 

2004

2006

0

56

 

2004

2007

0

67

 

2004

2008

7,558

144

 

2005

.

Tổng sản lượng dầu xuất khẩu  tính theo thùng trên ngày (b/d), tính cả dầu thô và dầu đã tinh chế

Năm

Dầu – Xuất khẩu

Xếp hạng

Tỉ lệ tăng

Thời gian lấy số liệu

2005

275,000

26

 

2004

2006

275,000

30

0.00 %

2004

2007

275,000

31

0.00 %

2004

2008

282,100

40

2.58 %

2005

 

Trữ lượng dầu thô đã được chứng minh tính theo thùng/ngày(bbl).

Năm

Trữ lượng dầu đã được chứng minh

Xếp hạng

Tỉ lệ tăng

Thời gian lấy số liệu

2003

631,500,000

39

 

January 2002 est.

2004

631,500,000

39

0.00 %

1 January 2002

2005

1,600,000,000

35

153.37 %

2004 est.

2006

1,600,000,000

33

0.00 %

2005 est.

2007

1,600,000,000

35

0.00 %

2006 est.

2008

5,000,000,000

23

212.50 %

1 January 2008 est.

 

 

 
Home Kinh tế Kinh tế và các nguồn tài nguyên thiên nhiên